"Nhanh Chóng Đi Vào Điểm Cốt Lõi"
Việt Nam Phong Tục – Một Bản Tùy Biến Từ Nôi Văn Hóa Á Đông
Việt Nam phong tục là một cuốn sách kinh điển và vô cùng quý hiếm viết về phong tục của người Việt xưa, được viết bởi nhà nho, nhà khảo cứu văn hóa Phan Kế Bính, được xuất bản lần đầu vào năm 1915.
Phong tục ở đây cần được hiểu là một nhóm hành vi có “khuôn mẫu” được quy ước bởi một nhóm người, khi nó được kích hoạt bởi một hoàn cảnh “sống” cụ thể, thường được lặp đi, lặp lại trong đời sống sinh hoạt hàng ngày. Và như vậy, khi hoàn cảnh sống tìm đến thì con người thay vì suy nghĩ: “phải làm như thế nào trong trường hợp này?”, thì đã có sẵn các “khuôn mẫu” để làm theo.
Phong tục của một dân tộc dù trải qua hàng ngàn năm hình thành và phát triển. Nhưng thực chất đó không hẳn là những khuôn mẫu bất biến. Nó phụ thuộc vào hoàn cảnh sống và có tính thời cuộc. Khi hoàn cảnh sống thay đổi thì theo quy luật chọn lọc: những phong tục thích nghi sẽ được giữ lại, trong khi những phong tục không còn thích nghi được nữa sẽ bị mai một và dần chìm vào quên lãng.

| Năm XB | 2023 |
| Trọng lượng (gr) | 500 |
| Kích Thước Bao Bì | 24 x 15.5 x 1.5 cm |
| Số trang | 304 |
| Hình thức | Bìa Mềm |
[ điểm cốt lõi ở trong tác phẩm ] : “Việt Nam phong tục”
Xuyên suốt cuốn sách, tác giả chia các phong tục thành 3 nhóm chính. Thứ nhất là phong tục trong gia đình, bao gồm các nghi lễ liên quan đến hôn nhân, thai sản, giáo dục con cái, các nghi thức mừng thọ, tang lễ, và thờ cúng tổ tiên. Thứ hai là phong tục làng xã, mô tả cách tổ chức làng xã, các quy ước hội hè, đình đám, và các nghi thức giao tế. Thứ ba là phong tục xã hội, bao gồm các nếp sinh hoạt: ăn gì? mặc gì? ở như thế nào? chơi ra sao? tín ngưỡng như thế nào?
Nói tóm lại, đây được đánh giá là một cuốn sách có tầm bao quát rất rộng, có thể phủ hầu hết các phong tục của người Việt xưa. Giúp chúng ta có thể hiểu rõ được cội nguồn, ý nghĩa của từng phong tục. Xét trên phương diện lịch sử, vai trò của của những phong tục này là vô cùng quan trọng. Dù chỉ là những yếu tố có tính “tưởng tượng”, nhưng nó lại tạo ra được sự gắn kết cộng đồng người Việt trên quy mô lớn. Có thể thấy rõ điều này qua lời hịch của hoàng đế Quang Trung: “Đánh cho để dài tóc. Đánh cho để đen răng. Đánh cho nó chích luân bất phản. Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn. Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ.”
[ bàn về nội dung ]
Việt Nam trước thế kỷ XX là một quốc gia phong kiến Á Đông, có nền tảng tư tưởng tam giáo đồng nguyên: Nho, Phật, Lão. Tổ tiên người Việt ở phương Nam có đóng góp, giao thoa và học hỏi tư tưởng với những người đến từ phương Bắc. Bên cạnh đó là nền văn minh nông nghiệp lúa nước. Sản vật chính là gạo, các loài vật được thuần hóa là: trâu, bò, lợn, gà, cùng với đó là các loại rau, thuốc Nam phù hợp với khí hậu nhiệt đới, gió mùa ẩm của phương Nam. Suốt hàng ngàn năm, người Việt trồng lúa nước, tính lịch theo mặt trăng và có lối sống quây quần làng xã. Mỗi xã gồm nhiều làng, mỗi làng gồm nhiều gia tộc (dòng họ) sống chung. Giữa các làng được ngăn cách nhau bởi một loại phên giậu tự nhiên: là những lũy tre làng.
Đứng đầu đất nước là vua (theo đạo nho gọi là thiên tử) cai trị toàn thiên hạ, chăm lo đời sống của trăm họ. Dưới vua, thì dựa vào vai trò trong xã hội mà chia thành 5 hạng. Hạng sĩ là những người biết chữ, có học vấn, và hiểu biết sâu sắc về tam giáo. Hạng nông là những người trồng trọt, chăn nuôi, trực tiếp tạo ra lương thực, thực phẩm. Hạng công là những người làm ra những vật dụng cho sinh hoạt hàng ngày như: bát, đũa, quần, áo, nhà, cửa, chiếu, dép… Hạng thương là những người tham gia vào các hoạt động trao đổi và lưu thông hàng hóa. Hạng binh là những người được trang bị khí giới một cách đồng bộ để có thể thực hiện những nghĩa vụ cộng đồng.
Bộ máy nhà nước bao gồm: quan, là những người đi lên từ tầng lớp kẻ sĩ, thường đã qua quá trình thi cử và đỗ đạt, giúp vua trong việc hoạch định chính sách; và tướng có thể đỗ đạt trong các kỳ thi võ bị, hiểu binh thư và nắm binh quyền, giúp vua trong việc trực tiếp giữ yên bờ cõi và an dân. Để bộ máy nhà nước có thể duy trì và hoạt động một cách bình ổn, nhà nước cần thu thế, là một phần thặng dư từ sức lao động của trăm họ.
Hệ thống làng xã được tổ chức theo kiểu gần như tự trị (phép vua thua lệ làng). Một vài ứng viên trong hệ thống làng xã sẽ được dân làng bầu ra. Những người này có mối quan hệ mật thiết với những người được phân công trong bộ máy nhà nước để cùng nhau cai quản làng xã. Trong quy ước của làng xã, việc của gia đình và việc của làng xã gần như không thể tách rời. Hầu hết việc riêng của gia đình phải có sự tham gia của làng xã. Và ngược lại, việc chung của làng xã thì tất cả các gia đình (và dòng họ) đều phải cử người tham gia vào (góp công hoặc là góp của).
Thế kỷ XX đã trôi qua. Nước Việt Nam sau thời kỳ Pháp thuộc, đã thoát ra khỏi chế độ phong kiến. Những kiến nghị về việc sửa đổi những phong tục cũ, vốn không còn phù hợp với nền văn minh vật chất (được đề cập trong cuốn sách) của Phan Kế Bính, “phần lớn” đã được thực thi. Lịch sử khép lại, thế kỷ XXI mở ra, là kỷ nguyên của hội nhập sâu rộng. Câu hỏi được đặt ra ở đây là: làm thế nào để hòa nhập mà không bị hòa tan?
Tác giả Phan Kế Bính
Phan Kế Bính (1875 – 1921), hiệu Bưu Văn, bút hiệu Liên Hồ Tử. Ông sinh quán tại làng Thụy Khê, huyện Hoàn Long, tỉnh Hà Đông (nay là phố Thụy Khuê, quận Tây Hồ, Hà Nội). Dù đỗ cử nhân Nho học vào năm Bính Ngọ (1906), ông không theo nghiệp quan trường mà chọn ở nhà dạy học và tham gia cổ động cho phong trào Duy Tân.
Sự nghiệp viết lách và báo chí của ông bắt đầu mạnh mẽ từ năm 1907. Phan Kế Bính là trợ bút và biên tập viên chủ lực của những tờ báo hàng đầu thời bấy giờ như Đông Dương tạp chí, Lục tỉnh tân văn, và Trung Bắc tân văn. Ông dành phần lớn tâm huyết cho việc dịch thuật và biên khảo các sách chữ Hán, với niềm tin rằng tri thức chính là con đường ngắn nhất để rút ngắn khoảng cách giữa người Việt với các dân tộc khác, tạo nên một xã hội văn hóa và dân tộc hùng cường.
Các tác phẩm tiêu biểu của Phan Kế Bính có thể kể ra như là: “Nam hải dị nhân” (1909), “Việt Nam phong tục” (1915), “Hán Việt văn khảo (1918). Bên cạnh đó là các công trình dịch thuật sử học quan trọng như “Đại Nam nhất thống chí”, “Đại Nam liệt truyện”. Đặc biệt, bộ dịch “Tam quốc chí diễn nghĩa” (dịch chung với Nguyễn Văn Vĩnh) của ông vẫn luôn được coi là một kiệt tác dịch thuật kinh điển. Phan Kế Bính mất vào năm 1921, khi mới 46 tuổi. Để ghi nhớ công lao của một trí thức nặng lòng với quốc học, tên ông đã được đặt cho một con đường tại quận Ba Đình, Hà Nội. Năm 2005, hội khoa học lịch sử Việt Nam đã tổ chức lễ tưởng niệm trang trọng cho ông tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám để tôn vinh sự nghiệp văn hóa đồ sộ mà ông để lại.
27 lượt đọc